Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Việt Nam dẫn đầu - Nhật Bản và 20 năm khôi phục cộng tác kinh tế. Kỳ I: Vượt qua những thách thức ban đầu.

Sau này nhìn lại, chúng ta thấy đó là một cuộc khủng hoảng toàn diện dẫn đến sụp đổ tuần tự các nước thành viên khối SEV

Việt Nam - Nhật Bản và 20 năm khôi phục hợp tác kinh tế<br />Kỳ I: Vượt qua những thách thức ban đầu

Tôi liền điện trực tiếp cho Tổng bí thơ Nguyễn Văn Linh yêu cầu quốc gia nên cử một Phó Chủ tịch nước sang dự để khẳng định rằng Việt Nam quý trọng Nhật Bản. Trong 20 năm qua đã có nhiều biến chuyển, hai nhà nước đã đưa quan hệ song phương lên mức đối tác chiến lược không chỉ về mặt kinh tế, mà còn về tuốt các lĩnh vực khác.

Sự lo âu đó có duyên cớ từ tình hình chung và còn vì cả những lý do nội bộ. Đúng 15 năm sau, tôi được quốc gia ta cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền CHXHCN Việt Nam tại Tokyo.

Trong số đó có cựu Ngoại trưởng Shintaro Abe, thân sinh của đương kim Thủ tướng Shinzo Abe. Phần lớn các nước trên thế giới, trong đó có Nhật Bản, hầu như thường hiệp tác với Việt Nam từ 1979-1988.

Phía bạn nghe đâu cũng biết việc tôi trực tiếp điện cho Tổng bí thơ Nguyễn Văn Linh.

Có thể nói trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nhật Bản là nước trước nhất trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam với khối lượng trợ giúp phát triển chính thức (ODA) song phương lớn nhất trên thế giới. Sau khi nghỉ hưu năm 1993, ông nối góp phần củng cố phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước. Hành động của chúng ta về sau này càng ngày càng được thế giới hiểu rõ, nhưng vào Thời điểm năm 1979 đã là lý do cho một chiến dịch quốc tế phong bế và "trừng phạt" Việt Nam do một đôi nước lớn dẫn đầu.

Một số lãnh đạo trong Chính phủ chưa hiểu nhiều về Nhật Bản, thậm chí có người còn định kiến hoặc "ám ảnh" về nước Nhật quân phiệt, về kí vãng "phát xít Nhật".

Trong bối cảnh như vậy, Việt Nam đã lâm vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, đặc biệt là về quan hệ quốc tế. Sau khi nghe tôi biểu lộ những hiểu biết của mình về Nhật Bản, tôi thấy rõ Tổng Bí thư đích thực hiểu Nhật Bản ngày nay là một nước quan yếu ở châu Á và trên thế giới, là nền kinh tế lớn thứ hai sau Mỹ. Ông là tác giả các tập sách nghiên cứu về lịch sử ngoại giao và kinh tế đối ngoại như: Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris (Nxb QĐND 2005, tái bản 2012), Suy ngẫm về trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị QG 2010, Nxb QĐND tái bản 2012), Câu chuyện trái nghề (Nxb Thanh niên 2010).

Cuộc gặp ngày 6/9/1989 tại Tokyo phát động quá trình khôi phục quan hệ hiệp tác và chương trình ODA dài hạn của Nhật Bản cho Việt Nam.

Thử thách   thời khắc năm 1979 đánh dấu một tuổi cực kỳ khó khăn đối với Việt Nam sau sự kiện Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Nghĩ như vậy, nhưng đến nay nhìn lại, tôi thấy rõ nếu không có một số sự kiện xảy ra trong thời kì đó thì mong muốn của tôi cũng khó thực hiện trong nhiệm kỳ của mình. Bởi vậy, Tổng bí thơ tán đồng ý kiến tôi đề xuất là Việt Nam cần tôn trọng quan hệ đối ngoại với Nhật Bản.

Trong thời gian ở Paris, ông đã thay mặt Chính phủ Việt Nam thương lượng và ký kết văn bản thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với hơn 20 nước trên thế giới.

Khi tôi thưa những nhận xét của mình về Thủ tướng Tanaka, Tổng bí thơ Nguyễn Văn Linh rất nhất trí. Võ Văn Sung *    Nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung nguyên là thành viên đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong cuộc thương thảo bí ẩn Lê Đức Thọ-Kissinger (1971-1973), Đại sứ Việt Nam trước tiên tại Pháp, là đại diện Chính phủ Việt Nam giữ mối hệ trọng với Hoa Kỳ từ 1973-1979 sau ngày ký hiệp nghị Paris.

Nhận được tin, tôi đã điện về Hà Nội đề nghị nên nâng cấp người đại diện Việt Nam, nhưng tôi được biết trong nước có quan điểm khác nhau.

Sau hơn 60 năm trị vì, Nhật hoàng Hirohito thăng hà ngày 7/1/1989

Việt Nam - Nhật Bản và 20 năm khôi phục hợp tác kinh tế<br />Kỳ I: Vượt qua những thách thức ban đầu

Khi tôi chuẩn bị trình Quốc thư cùng Đại sứ của hai nước khác thì Nhật hoàng Hirohito lâm bệnh nặng khó qua khỏi, phía Nhật thu xếp một thủ tục trình Quốc thư ngoại lệ do Đông Cung hoàng thái tử thay Vua cha đứng ra nhận Quốc thư. Từ trái sang phải: Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch quốc gia Phan Văn Khải, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Michyo Watanabe và Đại sứ Võ Văn Sung. Rồi sau đó, khi Nhật hoàng Akihito chính thức đăng quang, Việt Nam đã cử đ/c Nguyễn Hữu Thọ, cũng cương vị như Phó chủ toạ nước sang dự lễ.

Việt Nam làm việc này với hai mục đích: đánh trả Khmer Đỏ đã liên tục tiến công quân sự vào biên thuỳ Tây-Nam Việt Nam và đáp lại sự kêu cứu của nhân dân Campuchia đang bị tai họa diệt chủng do Khmer Đỏ gây ra.

Những sự kiện tình cờ   Như một sự ngẫu nhiên, năm 1988 là năm rất đặc biệt trong lịch sử Nhật Bản.

Nhưng mặt khác, tôi lại được "yên tâm" phần nào sau các lần gặp Tổng bí thơ Nguyễn Văn Linh. Tổng bí thơ đã đồng ý ngay và cử đ/c Lê Quang Đạo, Phó chủ toạ Hội đồng Nhà nước (tương đương Phó chủ toạ nước) đại diện Việt Nam đi dự.

Qua đó, tôi thấy hoàng thái tử rất quan tâm đến Việt Nam. Nhờ có được cảm nhận "yên tâm" sau các lần gặp đó, tôi nghĩ suy tiếp về những trọng điểm của nhiệm kỳ mới tại Nhật Bản và tự xác định hai ưu tiên: Một là tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng và phát triển của Nhật Bản, qua đó có thể đóng góp vào việc xây dựng chiến lược kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng của Việt Nam thời kỳ đổi mới; Hai là hăng hái vận động khôi phục hợp tác kinh tế giữa hai nước ở mức càng cao càng tốt.

Nakayama ký kết tại Paris văn bản thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày 21/9/1973 Cách đây 40 năm, ngày 21/9/1973 tại Paris, tôi thay mặt Chính phủ cùng với Đại sứ Nhật Bản tại Pháp là ông Yoshihiro Nakayama đã ký và đàm luận thư chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nhật Bản. Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản đã nói với tôi: Nhật Bản rất hiểu và trân trọng vai trò của Đại sứ Việt Nam trong những sự kiện trên.

(Còn nữa). Nhật Bản mời các nước có quan hệ đến dự tang lễ. Thời kì hoàng thái tử tạm quyền gần một năm lại là dịp cho tôi được gặp trò chuyện nhiều với vị Vua ngày mai, điều không dễ dàng khi ông chính thức trở thành Nhật hoàng.

Đến năm 1992 tôi kết thúc nhiệm kỳ sau khi đã góp phần vào việc khôi phục cộng tác kinh tế giữa hai nước ở quy mô lớn. Những cử chỉ này đã làm phía Nhật cảm kích. Từ năm 1988, ông là Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản, góp phần trực tiếp khai thông quan hệ hợp tác song phương trong thời đoạn đầu thời kỳ đổi mới ở nước ta. Ngay cả các nước XHCN Đông Âu trong Hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEV), vốn là những đối tác quan yếu truyền thống của Việt Nam, lúc đó cũng gặp khó khăn không chỉ về kinh tế mặc cả nhiều mặt khác trong nội bộ mỗi nước và giữa các thành viên.

Do vậy, năm 1988 khi được cử làm Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản, tôi có tâm cảnh lo lắng về hoàn cảnh thực thi nhiệm vụ được giao. Sau này, khi tôi xin gặp các vị từ Thủ tướng đến các Bộ trưởng đương nhiệm, các cựu Thủ tướng, cựu Ngoại trưởng, hết thảy đều tiếp tôi trọng thị và thân tình. Bộ Ngoại giao Việt Nam cử tôi đại diện Việt Nam dự lễ tang.

Ngay từ hồi đang công tác ở Pháp, tôi đã tìm đọc tập sách của ông Kakuei Tanaka, một bậc thầy về chính sách đổi mới của Nhật Bản và tôi nhận thấy đó là một trong những anh tài không chỉ của nước Nhật mà của cả thế giới. Ông Võ Văn Sung và Đại sứ Nhật Bản tại Pháp Y.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét